Trước khi trở thành khu nhà ở có nhiều người nước ngoài, Thảo Điền là một vùng ven thuộc huyện Thủ Đức, đất thấp kẹp giữa khúc sông Sài Gòn và các vùng vườn phía trong, dân cư thưa, sống bằng làm vườn, làm ruộng, đánh bắt và các nghề gắn với sông. Đường bộ chỉ thật sự thuận tiện khi có xa lộ và cầu Sài Gòn vào đầu thập niên 1960; trước đó, sông là lối đi quan trọng.
Tài liệu chi tiết về từng xóm, từng gia đình ở đây không nhiều, và bài này chỉ dựng lại những nét đã chắc: địa hình, nếp sống, những biến đổi lớn. Chỗ nào là suy đoán sẽ ghi rõ. Mục đích là giúp người đang sống ở Thảo Điền hôm nay hiểu nền đất mình đứng, và giúp người quê ở đây đi xa có thêm vài điểm tựa khi kể lại cho con cháu.
Khung địa hình: đất thấp, sông ôm, rạch len vào
Thảo Điền nằm trong khúc uốn của sông Sài Gòn, nên hai phía là nước. Phần lớn đất ở đây thấp, hình thành từ phù sa sông, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều lên xuống mỗi ngày. Trước khi có kè bờ và đường bê tông, mép nước không cố định như bây giờ mà là một dải bùn, bãi lác, cây bần, dừa nước, ngập khi triều cao và lộ ra khi triều rút.
Từ sông, các rạch nhỏ len vào đất liền, chia vùng đất thành từng giải. Rạch vừa là đường thoát nước, vừa là lối cho xuồng ghe vào sâu trong vườn. Những chỗ đất cao hơn một chút, thường gọi là giồng hay gò, là nơi người ta dựng nhà, trồng cây ăn trái; chỗ trũng làm ruộng hoặc để bãi cỏ. Kiểu sắp xếp này rất phổ biến khắp vùng ven Sài Gòn xưa, không riêng Thảo Điền.
Nhiều dấu vết của địa hình ấy còn đọc được hôm nay. Một số con hẻm đi thấp dần về phía sông, mặt đường ở vài đoạn thấp hơn nền nhà hai bên, và cây cổ thụ thường mọc ở những chỗ đất cao. Người ở lâu năm biết chỗ nào hay đọng nước, chỗ nào khô ráo; đó chính là bản đồ giồng và trũng ngày trước, bị phủ lên bởi bê tông nhưng chưa hề mất đi.
Người ta sống bằng gì ở vùng ven sông này
Làm vườn. Vườn cây ăn trái và vườn rau là sinh kế quen thuộc của vùng ven Thủ Đức. Đất phù sa, nước ngọt từ sông trong phần lớn năm, lại gần chợ thành phố, nên trái cây và rau có đầu ra. Nhà vườn thường có mương nhỏ dẫn nước, vừa tưới vừa giữ ẩm cho cây.
Làm ruộng thấp. Trên các mảnh đất trũng, ruộng lúa thường là ruộng một vụ, phụ thuộc mùa mưa và con nước. Chữ "Điền" trong tên khu gợi lại loại ruộng này. Năng suất không cao, và chính vì đất trũng khó canh tác mà về sau những mảnh ruộng này chuyển đổi mục đích sớm khi thành phố mở rộng.
Đánh bắt và nghề sông. Sông và rạch cho cá, tôm, cua; người ta đặt lú, giăng lưới, câu. Có những gia đình chở đò, chở hàng bằng ghe, đưa người và nông sản sang bờ bên kia hoặc xuôi về các bến chợ. Đây là những nghề nhỏ, không để lại nhiều giấy tờ, nhưng là một phần đời sống ven sông mà người lớn tuổi còn nhắc.
Làm thuê và buôn bán nhỏ. Gần thành phố nên nhiều người đi làm thuê, buôn bán ở bên kia sông rồi về. Khi có xa lộ, việc đi lại bằng đường bộ dễ hơn, kéo theo sự dịch chuyển dần từ nghề nông sang nghề dịch vụ và làm công.
Xa lộ và cầu: lần đầu Thảo Điền được nối thẳng với thành phố
Mốc thay đổi lớn đầu tiên là trục xa lộ nối Sài Gòn với Biên Hoà cùng cây cầu bắc qua sông Sài Gòn, hoàn thành vào đầu thập niên 1960. Thời đó trục này được gọi là xa lộ Biên Hoà; sau năm 1975 đổi tên thành xa lộ Hà Nội. Cầu Sài Gòn đặt chân ngay rìa khu Thảo Điền ngày nay, nên vùng ven sông vốn cách trở bỗng nằm sát một trục giao thông lớn.
Tuy vậy, xa lộ chạy dọc rìa chứ không cắt ngang khu. Phần đất nằm giữa xa lộ và khúc sông vẫn giữ nhịp vườn ruộng khá lâu, vì đường vào bên trong còn nhỏ và thấp. Hiệu ứng của xa lộ đến dần: đầu tiên là dải nhà dọc trục đường, sau mới lan vào trong. Điều này giải thích vì sao Thảo Điền đến cuối thế kỷ 20 vẫn nhiều vườn hơn phố.
Có một câu chuyện riêng về hai công trình này trong chuyên mục; ở đây chỉ cần nhớ rằng từ khi có xa lộ và cầu, sông thôi là lối đi duy nhất, và Thảo Điền bắt đầu nhìn về thành phố thay vì nhìn ra sông.
Những gì còn lại từ thời vùng ven
Đô thị hoá nhanh nhưng không xoá sạch. Đi chậm trong khu, bạn vẫn gặp những dấu vết của Thảo Điền cũ:
- Cây cổ thụ: những cây to rải rác trong hẻm, sân nhà, góc đường thường có tuổi lớn hơn các công trình quanh chúng. Nhiều cây là cây ăn trái hoặc cây bóng mát thời nhà vườn.
- Nhà cũ một tầng: trong các hẻm sâu còn vài ngôi nhà mái ngói, hiên thấp, sân rộng, kiểu nhà vùng ven trước khi có làn sóng xây biệt thự.
- Bờ dừa nước, cây bần: ở những đoạn bờ chưa kè, thảm dừa nước và cây bần vẫn mọc, gần giống cảnh mép sông ngày xưa.
- Rạch nhỏ: một số rạch còn chảy, có đoạn đã thu hẹp, có đoạn bị lấp hoặc cống hoá. Dấu vết của chúng đôi khi chỉ còn là một con hẻm cong lạ thường.
- Cách gọi của người lớn tuổi: tên xóm, tên bến, tên rạch trong lời kể của các cụ, nhiều tên không có trên bản đồ hiện nay.
Những dấu vết này mong manh vì nằm trên đất có giá trị cao. Người quan tâm có thể ghi lại bằng ảnh và lời kể của người lớn tuổi; tư liệu kiểu này sau vài năm sẽ quý hơn nhiều so với hôm nay.
Từ vùng ven thành nơi chọn để ở
Từ thập niên 1990, đặc biệt sau khi Quận 2 được thành lập năm 1997, Thảo Điền bắt đầu thay đổi rõ rệt. Đất rộng, gần trung tâm hơn nhiều vùng ven khác, có sông và cây xanh, nên những người tìm một chỗ ở yên tĩnh bắt đầu tìm tới. Một bộ phận đáng kể trong số đó là người nước ngoài làm việc tại thành phố, kéo theo trường học, cửa hàng và dịch vụ phục vụ họ.
Nhà vườn chuyển thành biệt thự có vườn, rồi các khu biệt thự xây sẵn, sau đó là căn hộ cao tầng dọc xa lộ và gần sông. Mỗi lớp xây dựng xoá bớt một phần cảnh cũ. Người dân gốc ở đây có người bán đất chuyển đi nơi khác, có người ở lại, xây nhà cho thuê hoặc mở cửa hàng nhỏ. Cấu trúc dân cư từ chỗ gần như toàn nông dân và thợ thủ công vùng ven trở nên đa dạng: dân gốc, dân nhập cư từ nơi khác trong thành phố, người nước ngoài, giới trẻ đến làm việc.
Quá trình này được kể kỹ hơn ở bài riêng về đô thị hoá Thảo Điền. Điều cần giữ ở đây là: nhiều thứ làm nên sức hút của khu hôm nay, như lô đất rộng, cây cổ thụ, cảnh sông, đều là di sản của thời vùng ven.
Nhịp sống theo con nước
Ở một vùng đất thấp ven sông, lịch sinh hoạt không chỉ theo mặt trời mà còn theo thuỷ triều. Sông Sài Gòn ở đoạn này chịu ảnh hưởng triều từ biển, nước lên xuống trong ngày và cao thấp theo chu kỳ trăng. Người làm vườn biết lúc nào mở cống mương để lấy nước ngọt tưới cây, lúc nào đóng lại khi nước đục hay khi mùa khô nước có dấu hiệu lợ. Người đi ghe chọn giờ nước thuận để chèo đỡ tốn sức, xuôi theo con nước ròng rồi về theo con nước lớn.
Mùa mưa và những tháng cuối năm âm lịch, khi triều cường dâng cao, là thời điểm nước tràn vào ruộng trũng và lối đi. Nhà cửa vùng ven thường dựng trên nền đắp cao hơn, có hiên, có bậc, đồ đạc kê cao. Với người sống ở đây, nước vào sân vài bữa mỗi năm là chuyện bình thường, có phần còn mang lại phù sa cho vườn. Cảm giác "ngập là sự cố" chỉ trở nên rõ khi khu vực đô thị hoá, mặt đất bị phủ kín và nếp nhà không còn được thiết kế để sống chung với nước.
Hiểu nhịp sống ấy giúp nhìn lại vài chuyện của Thảo Điền hiện nay. Những con đường từng ngập khi triều cao thường chạy trên nền ruộng cũ hoặc gần rạch cũ. Những ngôi nhà vườn cũ còn lại có nền cao hơn mặt đường là vì chủ nhà ngày trước đã tính tới con nước. Kinh nghiệm xưa không đủ để giải bài toán của một khu đô thị đông người, nhưng nó nhắc rằng nước ở đây là một phần của địa phương, không phải vị khách lạ.
Ghi lại ký ức Thảo Điền cũ: vài gợi ý cho người quan tâm
Thảo Điền chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về đời sống trước đô thị hoá. Đây là khoảng trống mà người dân, học sinh, sinh viên có thể góp phần lấp, miễn làm có phương pháp. Việc đơn giản nhất là phỏng vấn người lớn tuổi trong gia đình hoặc hàng xóm: họ nhớ con rạch nào, bến đò nào, cây gì trồng nhiều, ruộng nằm ở đâu, đường đi chợ thế nào.
Khi ghi lại, nên ghi rõ ai kể, sinh năm nào, sống ở đây từ bao giờ, và phân biệt điều người kể tự thấy với điều nghe người khác kể. Ảnh cũ trong album gia đình, giấy tờ đất cũ có ghi tên xã, ấp cũng là nguồn quý; chụp lại và ghi chú thời gian, địa điểm. Một tập hồ sơ nhỏ như vậy, nếu nhiều người cùng làm, sẽ thành tư liệu địa phương có giá trị.
Cũng nên giữ tinh thần dè dặt: ký ức con người có thể lẫn mốc thời gian, nhất là khi nhắc chuyện trước sau năm 1975, trước sau khi có xa lộ. So nhiều lời kể với nhau và với các mốc đã chắc trong bài này là cách đơn giản để lọc bớt sai lệch.
Câu hỏi thường gặp
Thảo Điền ngày xưa có làng hay đình riêng không?
Vùng ven Thủ Đức xưa có các làng với đình, miếu riêng, nhưng tài liệu công khai về một đình làng mang tên Thảo Điền rất ít. Không nên khẳng định khi chưa kiểm được. Nếu bạn biết một ngôi đình, miếu cũ trong khu, hỏi người trông coi và ban quản lý di tích địa phương là cách tốt nhất để biết lai lịch.
Trước 1997 thì Thảo Điền thuộc đâu?
Trước khi Quận 2 thành lập năm 1997, vùng đất Thảo Điền thuộc huyện Thủ Đức của TP Hồ Chí Minh, nằm trong phạm vi các xã của huyện này. Tên Thảo Điền khi đó là tên vùng trong dân, chưa phải tên một phường độc lập.
Có ảnh cũ nào về Thảo Điền trước khi đô thị hoá không?
Ảnh cũ về khu vực cầu Sài Gòn và xa lộ khá nhiều vì đây là công trình lớn. Ảnh về bên trong vùng vườn thì hiếm hơn, chủ yếu nằm trong album gia đình. Hỏi người dân gốc trong khu, các nhóm sưu tầm ảnh Sài Gòn xưa và thư viện là những hướng nên thử.
Người dân gốc ở Thảo Điền bây giờ còn nhiều không?
Không có số liệu chính thức tách riêng người dân gốc. Qua quan sát, một phần gia đình gốc vẫn ở trong các hẻm sâu, có người giữ nhà cũ, có người xây nhà cho thuê. Nhiều gia đình khác đã chuyển đi khi bán đất. Muốn biết rõ, cách thực tế là trò chuyện với hàng xóm lâu năm.
Thảo Điền ngày xưa có bị ngập như bây giờ không?
Đất thấp ven sông thì chịu ảnh hưởng triều từ trước tới nay. Khác biệt là ngày xưa mép nước là bãi bùn, ruộng trũng và rạch hở nên nước có chỗ tràn, còn nay mặt đất phủ bê tông, nhiều rạch bị thu hẹp, nước khó thoát hơn ở một số chỗ. Phần này được bàn kỹ ở chuyên mục sông và ven sông.