Xa lộ nối Sài Gòn với Biên Hoà và cây cầu bắc qua sông Sài Gòn ở đầu xa lộ được hoàn thành vào đầu thập niên 1960. Thời đó trục đường được gọi là xa lộ Biên Hoà; sau năm 1975 đổi tên thành xa lộ Hà Nội. Cầu Sài Gòn đặt chân ngay rìa khu Thảo Điền ngày nay. Từ đây, vùng ven sông vốn đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng có một lối thẳng vào thành phố.
Gần bảy mươi năm sau, hai công trình vẫn là xương sống giao thông của khu: phần lớn người Thảo Điền ra vào trung tâm qua cầu Sài Gòn, tuyến metro số 1 chạy trên cao dọc xa lộ. Bài này kể lại lịch sử hai công trình ở mức các mốc đã chắc, phân tích chúng đã thay đổi Thảo Điền thế nào, và vì sao những thay đổi ấy vẫn còn tác động tới đời sống hôm nay.
Xa lộ Biên Hoà: con đường hiện đại đầu tiên ở phía đông
Cuối thập niên 1950, chính quyền Sài Gòn khi đó xây dựng một trục đường bộ lớn nối thành phố với Biên Hoà, nơi có các khu kỹ nghệ và căn cứ quân sự. Công trình được làm theo tiêu chuẩn xa lộ của thời đó, với mặt đường rộng, ít giao cắt, khác hẳn những con đường tỉnh nhỏ hẹp trước kia. Nguồn vốn và kỹ thuật có sự tham gia của viện trợ nước ngoài, điều được nhiều tài liệu lịch sử giao thông ghi nhận.
Xa lộ hoàn thành vào đầu thập niên 1960 và nhanh chóng trở thành trục giao thông quan trọng nhất phía đông. Hai bên đường dần hình thành khu dân cư, nhà máy, kho bãi. Với vùng ven Thủ Đức, trong đó có đất Thảo Điền, xa lộ là lần đầu tiên có một con đường lớn chạy ngang qua, mang theo xe cộ, hàng hoá và những thay đổi về giá trị đất.
Sau năm 1975, xa lộ được đổi tên thành xa lộ Hà Nội. Tên mới mang ý nghĩa biểu tượng về con đường đi ra phía bắc. Trong đời thường, nhiều người lớn tuổi ở phía đông thành phố đôi khi vẫn nhắc tên cũ khi kể chuyện, nhưng trên mọi giấy tờ và bản đồ hiện nay, tên chính thức là xa lộ Hà Nội.
Cầu Sài Gòn: cửa ngõ của Thảo Điền
Cầu Sài Gòn được xây cùng thời với xa lộ, là đoạn vượt sông Sài Gòn từ phía Bình Thạnh sang bờ đông. Cầu đặt chân ở rìa khu Thảo Điền, nên từ đó, đi từ trung tâm sang khu này chỉ còn là chuyện vài cây số đường bộ thay vì phải chờ đò hay vòng đường xa.
Trong nhiều thập niên, cầu Sài Gòn là lối chính, gần như duy nhất, nối Thảo Điền và cả vùng phía đông với trung tâm bằng đường bộ ở khu vực này. Khi lưu lượng xe tăng mạnh, cây cầu trở thành điểm nghẽn quen thuộc vào giờ cao điểm. Để giảm tải, cầu Sài Gòn 2 được xây song song và đưa vào sử dụng vào đầu thập niên 2010, cho phép tách hai chiều xe trên hai cây cầu.
Với người Thảo Điền, "qua cầu" gần như đồng nghĩa với "vào thành phố". Thói quen tính giờ đi lại theo tình trạng cầu Sài Gòn là một nét sinh hoạt rất riêng: người ta biết giờ nào cầu thông, giờ nào nên đi sớm, khi nào nên chọn hướng khác qua Thủ Thiêm. Từ khi metro chạy, một phần người đi lại có thêm lựa chọn vượt sông trên cầu metro, song song với cầu đường bộ.
Hai công trình đã thay đổi Thảo Điền ra sao
Thời gian đi lại rút ngắn. Trước khi có cầu và xa lộ, sang trung tâm là một chuyến đi tính bằng giờ, phụ thuộc đò và con nước. Sau đó, quãng đường còn tính bằng phút. Khoảng cách địa lý không đổi, nhưng khoảng cách thời gian thu hẹp hẳn, và chính khoảng cách thời gian quyết định nơi người ta chọn để ở.
Giá trị đất thay đổi. Đất gần một trục giao thông lớn luôn có giá trị cao hơn. Dải đất dọc xa lộ thay đổi trước, rồi lan dần vào trong. Đây là động lực chính khiến đất vườn, đất ruộng ở Thảo Điền chuyển sang đất ở khi thành phố mở rộng.
Hướng nhìn của khu đổi. Khi sông là đường đi chính, nhà cửa quay ra sông, bến nước là trung tâm của xóm. Khi đường bộ thành chủ đạo, các lối ra xa lộ trở thành điểm tụ hội, chợ và cửa hàng mọc gần đó. Thảo Điền từ một vùng hướng ra sông thành một vùng hướng ra đường.
Ranh giới tự nhiên mới. Xa lộ, với bề rộng và lưu lượng lớn, tạo ra một ranh giới khó vượt cho người đi bộ. Phía trong xa lộ dần hình thành không khí khu ở yên tĩnh, phía ngoài sôi động hơn. Ranh giới vật lý này góp phần định hình cảm nhận về "khu Thảo Điền" như một bán đảo khép kín.
Mở rộng xa lộ và tuyến metro chạy dọc
Theo thời gian, xa lộ Hà Nội được mở rộng để đáp ứng lưu lượng ngày càng lớn. Đợt mở rộng đáng kể diễn ra trong khoảng thập niên 2010, đồng thời dành hành lang cho tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên chạy trên cao dọc trục. Việc mở rộng kéo theo giải toả hai bên đường, thay đổi cảnh quan đoạn qua Thảo Điền và các khu lân cận.
Tuyến metro số 1 đi vào vận hành cuối năm 2024, với ga Thảo Điền nằm trên trục xa lộ. Như vậy, cùng một hành lang giao thông hơn sáu mươi năm tuổi giờ mang cả xe cộ lẫn tàu điện. Với Thảo Điền, đây là lớp hạ tầng thứ ba sau cầu và xa lộ, tiếp tục rút ngắn khoảng cách thời gian tới trung tâm.
Thông tin về giờ chạy, giá vé, cách đi metro thuộc chuyên mục đi lại của trang và luôn nên kiểm từ nguồn chính thức vì có thể thay đổi. Ở góc lịch sử, điểm đáng chú ý là sự tiếp nối: con đường mở ra từ đầu thập niên 1960 vẫn là trục chính, chỉ được chồng thêm các lớp công trình mới.
Dòng thời gian các công trình nối Thảo Điền với trung tâm
Bảng gom các mốc theo thập niên để tránh sai số năm cụ thể; nếu cần ngày tháng chính xác, nên tra tài liệu của cơ quan quản lý công trình:
| Giai đoạn | Công trình | Tác động tới Thảo Điền |
|---|---|---|
| Đầu thập niên 1960 | Xa lộ Biên Hoà và cầu Sài Gòn | Lần đầu có lối đường bộ thẳng vào trung tâm |
| Sau 1975 | Xa lộ đổi tên thành xa lộ Hà Nội | Tên gọi mới, trục vẫn giữ vai trò chính |
| Cuối thập niên 2000 – đầu 2010 | Cầu Thủ Thiêm, hầm vượt sông | Thêm hướng vào trung tâm qua phía nam |
| Đầu thập niên 2010 | Cầu Sài Gòn 2 | Giảm tải cho cầu Sài Gòn cũ |
| Thập niên 2010 | Mở rộng xa lộ Hà Nội | Trục rộng hơn, giải toả hai bên đường |
| Cuối năm 2024 | Metro số 1 vận hành | Ga Thảo Điền, thêm lựa chọn đi lại |
Nhìn cả dòng thời gian, mỗi lớp công trình đều làm Thảo Điền gần trung tâm hơn và đổi tính chất khu thêm một bậc. Lịch sử khu ở này gắn chặt với lịch sử các công trình vượt sông, điều không lạ với một bán đảo.
Cái giá của sự kết nối
Kết nối tốt đem lại nhiều thuận lợi nhưng cũng có cái giá. Xa lộ đông xe đem tiếng ồn và bụi cho dải nhà sát đường. Nút giao giữa các đường trong khu và xa lộ thường ùn vào giờ cao điểm, khiến những người sống sâu trong khu có khi mất nhiều thời gian để ra tới trục chính hơn là đi hết đoạn đường còn lại.
Mỗi đợt mở rộng hay xây công trình mới cũng kéo theo giải toả, thay đổi lối đi, thời gian thi công kéo dài. Người dân sống dọc trục đã trải qua nhiều lần như vậy. Những trải nghiệm này ít được ghi vào sách nhưng là một phần lịch sử thật của khu, đáng được lắng nghe khi nói chuyện với người ở lâu năm.
Hiểu lịch sử hai công trình cũng giúp nhìn các thảo luận hiện nay về giao thông khu Thảo Điền bằng con mắt dài hạn hơn. Những vấn đề như nút giao, lối ra vào bán đảo, áp lực lên cầu là hệ quả của địa hình bán đảo cộng với một trục giao thông duy nhất ở một phía. Giải pháp nào cũng phải tính đến hai yếu tố gốc này.
Những ký ức gắn với xa lộ và chân cầu
Với người ở Thảo Điền lâu năm, xa lộ và chân cầu Sài Gòn không chỉ là công trình giao thông mà còn là nơi chốn của nhiều ký ức. Khu chân cầu từng là điểm tụ tập của xe khách, xe ôm, hàng quán phục vụ người đi đường. Những quán ăn, quán nước ven xa lộ là nơi người dân trong khu ra đón người thân từ tỉnh lên, tiễn người đi làm ăn xa.
Mỗi đợt mở rộng xa lộ, một phần cảnh quan này biến mất. Dãy nhà sát đường bị giải toả, hàng quán dời đi, lối rẽ vào khu thay đổi. Người trẻ hôm nay đi qua xa lộ rộng thênh thang, có tàu metro chạy phía trên, khó hình dung đoạn đường từng hẹp và nhộn nhịp hàng quán thế nào. Những tấm ảnh cũ chụp chân cầu Sài Gòn vì thế trở thành tư liệu đáng giữ.
Cũng gắn với cây cầu là hình ảnh dòng sông nhìn từ trên cao. Đi qua cầu Sài Gòn, người ta thấy khúc sông uốn quanh Thảo Điền, những mảng xanh ven bờ, tàu thuyền bên dưới. Với nhiều người, đó là lần đầu họ nhận ra Thảo Điền là một bán đảo. Ngay cả hôm nay, từ trên cầu hay từ tàu metro, góc nhìn ấy vẫn là cách nhanh nhất để hiểu địa hình của khu.
Ba cây cầu song song trên một khúc sông
Ngày nay, ở khúc sông trước Thảo Điền có tới ba công trình vượt sông chạy gần như song song: cầu Sài Gòn cũ, cầu Sài Gòn 2 và cầu của tuyến metro số 1. Đứng từ bờ nhìn ra, ba nhịp cầu xếp lớp là một hình ảnh đặc trưng của cửa ngõ phía đông. Mỗi cây cầu thuộc một thời: một cây từ đầu thập niên 1960, một cây từ đầu thập niên 2010, một cây gắn với tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của thành phố.
Sự xếp lớp ấy cho thấy một đặc điểm của cách thành phố phát triển hạ tầng: thay vì mở hướng mới, các công trình mới thường bám theo hành lang cũ đã có sẵn đất và đường dẫn. Điều này tiết kiệm giải toả nhưng cũng dồn dòng người vào cùng một điểm. Với Thảo Điền, kết quả là khu vực chân cầu luôn là nơi tập trung giao thông lớn nhất, và các thay đổi ở đây ảnh hưởng tới toàn khu.
Với người thích chụp ảnh hay đơn giản là thích ngắm thành phố, khúc sông có ba cây cầu là nơi đáng dừng lại vào lúc chiều tối, khi đèn xe trên cầu và đoàn tàu trên cao cùng sáng. Đó cũng là cách nhìn trực quan nhất vào lịch sử sáu mươi năm kết nối của khu.
Câu hỏi thường gặp
Xa lộ Hà Nội ngày xưa tên là gì?
Trước năm 1975, trục đường này được gọi là xa lộ Biên Hoà, vì nối Sài Gòn với Biên Hoà. Sau năm 1975 được đổi tên thành xa lộ Hà Nội. Một số người lớn tuổi vẫn nhắc tên cũ khi kể chuyện, nhưng tên chính thức hiện nay là xa lộ Hà Nội.
Cầu Sài Gòn nối những khu nào?
Cầu Sài Gòn bắc qua sông Sài Gòn, nối phía Bình Thạnh cũ ở bờ tây với khu Thảo Điền ở bờ đông, nay thuộc phường An Khánh. Cầu là điểm đầu của xa lộ Hà Nội và là cửa ngõ đường bộ chính của Thảo Điền vào trung tâm.
Cầu Sài Gòn 2 khác cầu Sài Gòn cũ thế nào?
Cầu Sài Gòn 2 được xây song song với cầu cũ để tăng sức chứa, đưa vào sử dụng đầu thập niên 2010. Hai cầu thường được tổ chức mỗi cầu một chiều chính. Cách phân luồng cụ thể có thể điều chỉnh, nên khi đi hãy theo biển báo hiện hành.
Có phải xa lộ Hà Nội là ranh giới của khu Thảo Điền?
Trong cách hiểu đời thường, xa lộ Hà Nội là ranh giới phía ngoài của khu Thảo Điền, phía trong là bán đảo ôm bởi sông. Ranh giới hành chính chính xác của phường cũ có thể không trùng hoàn toàn với tim đường, nên khi cần chính xác hãy xem hồ sơ địa giới.
Trước khi có cầu Sài Gòn thì người Thảo Điền qua sông thế nào?
Trước đầu thập niên 1960, đi lại qua sông ở khu vực này chủ yếu bằng đò, ghe, hoặc phải vòng đường bộ xa hơn qua các cây cầu khác. Đò ngang và ghe chở hàng là phương tiện quen thuộc của cư dân ven sông thời đó.